Tại sao ống nghiệm huyết thanh cũng có thể được sử dụng để phát hiện hàm lượng D-dimer? Sẽ có sự hình thành cục máu đông fibrin trong ống nghiệm huyết thanh, liệu nó có bị phân hủy thành D-dimer không? Nếu không bị phân hủy, tại sao lại có sự gia tăng đáng kể D-dimer khi cục máu đông hình thành trong ống nghiệm chống đông máu do lấy mẫu máu không đúng cách để xét nghiệm đông máu?
Trước hết, việc lấy máu không đúng cách có thể dẫn đến tổn thương nội mô mạch máu và giải phóng yếu tố mô dưới nội mô và chất hoạt hóa plasminogen loại mô (tPA) vào máu. Một mặt, yếu tố mô kích hoạt con đường đông máu ngoại sinh để tạo ra cục máu đông fibrin. Quá trình này diễn ra rất nhanh. Chỉ cần nhìn vào thời gian prothrombin (PT) là đủ biết, thường là khoảng 10 giây. Mặt khác, sau khi fibrin được hình thành, nó hoạt động như một chất đồng yếu tố để tăng hoạt động của tPA lên 100 lần, và sau khi tPA gắn vào bề mặt fibrin, nó sẽ không còn dễ bị ức chế bởi chất ức chế hoạt hóa plasminogen-1 (PAI-1). Do đó, plasminogen có thể được chuyển hóa nhanh chóng và liên tục thành plasmin, sau đó fibrin có thể bị phân hủy, và một lượng lớn FDP và D-Dimer có thể được tạo ra. Đây là lý do tại sao sự hình thành cục máu đông trong ống nghiệm và các sản phẩm phân hủy fibrin tăng lên đáng kể do việc lấy máu không đúng cách.
Vậy tại sao mẫu huyết thanh được thu thập bình thường (không có chất phụ gia hoặc có chất chống đông) cũng tạo thành cục máu đông fibrin trong ống nghiệm, nhưng lại không bị phân hủy để tạo ra một lượng lớn FDP và D-dimer? Điều này phụ thuộc vào loại ống huyết thanh. Điều gì xảy ra sau khi lấy mẫu: Thứ nhất, không có một lượng lớn tPA đi vào máu; thứ hai, ngay cả khi một lượng nhỏ tPA đi vào máu, tPA tự do sẽ bị PAI-1 liên kết và mất hoạt tính trong khoảng 5 phút trước khi gắn vào fibrin. Tại thời điểm này, thường không có sự hình thành fibrin trong ống huyết thanh không có chất phụ gia hoặc có chất chống đông. Máu không có chất phụ gia cần hơn mười phút để đông tự nhiên, trong khi máu có chất chống đông (thường là bột silicon) bắt đầu quá trình đông máu từ bên trong. Quá trình hình thành fibrin từ con đường đông máu cũng cần hơn 5 phút. Ngoài ra, hoạt tính tiêu sợi huyết ở nhiệt độ phòng trong ống nghiệm cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Hãy cùng bàn lại về xét nghiệm huyết khối đàn hồi (thromboelastogram) trong chủ đề này: bạn có thể hiểu rằng cục máu đông trong ống huyết thanh không dễ bị phân hủy, và bạn cũng có thể hiểu tại sao xét nghiệm huyết khối đàn hồi (TEG) không nhạy để phản ánh tình trạng tăng phân giải fibrin - cả hai trường hợp đều tương tự nhau. Tất nhiên, nhiệt độ trong quá trình xét nghiệm TEG có thể được duy trì ở mức 37 độ. Nếu TEG nhạy hơn để phản ánh tình trạng phân giải fibrin, một cách là thêm tPA vào thí nghiệm TEG trong ống nghiệm, nhưng vẫn còn những vấn đề về tiêu chuẩn hóa và chưa có ứng dụng phổ biến; ngoài ra, nó có thể được đo ngay tại giường bệnh sau khi lấy mẫu, nhưng hiệu quả thực tế cũng rất hạn chế. Một xét nghiệm truyền thống và hiệu quả hơn để đánh giá hoạt động phân giải fibrin là thời gian hòa tan của euglobulin. Lý do độ nhạy của nó cao hơn so với TEG là vì trong xét nghiệm này, kháng thể chống plasmin được loại bỏ bằng cách điều chỉnh giá trị pH và ly tâm, nhưng xét nghiệm này tốn nhiều thời gian và tương đối thô sơ, và hiếm khi được thực hiện trong các phòng thí nghiệm.
Danh thiếp
WeChat của Trung Quốc